Tại sao ngày càng nhiều học sinh tự tử?.

Các nhà nghiên cứu vừa phát hiện rằng, hầu hết các nạn nhân tuổi teen tự tử hoặc trầm cảm là do bị bắt nạt trong trường học hoặc trên mạng.
Các chuyên gia đã phân tích 41 trường hợp trẻ tự tử ở Australia, Canada, Anh và Mỹ. Trong đó có 24 trẻ gái và 17 trẻ trai có độ tuổi từ 13 – 18. Kết quả cho thấy, 24% thanh thiếu niên là nạn nhân của hình thức đe dọa về tình dục. Trong số đó, một nửa đã được xác định là trẻ đồng tính và một nửa khác được xác định là dị tính hay sở thích tình dục không rõ.

TS. John LeBlanc cho biết: “Hăm dọa trên mạng là yếu tố gây nên một số vụ tự tử ở trẻ, nhưng hầu như luôn có những yếu tố khác đi kèm như bệnh tâm thần hoặc đe dọa trực tiếp. Và tình trạng hăm dọa trên mạng sẽ tác động lớn đến tâm lý sợ hãi ở trẻ nếu thường xuyên xảy ra”.

Nghiên cứu trên khiến khá nhiều phụ huynh giật mình, việc quan tâm đến tâm lý của con ở lứa tuổi đến trường nhiều khi không được chú trọng, ngay cả khi con bị trầm cảm, bố mẹ cũng không đi vào tìm hiểu nguyên nhân và tìm biện pháp chữa trị cho con, gây nên nhiều hậu quả đáng tiếc.

Ngày nay, áp lực về bài vở mà lứa tuổi học sinh là rất lớn, với cuộc chạy đua điểm số, học thêm…khiến các em dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, mệt mỏi. Tại Việt Nam, theo một cuộc khảo sát, có đến 19,46 % học sinh trong độ tuổi từ 10 -16 tuổi gặp trục trặc về sức khỏe tâm thần. Trong khi đó, hiểu biết của xã hội, thậm chí ngay trong ngành y tế về chăm sóc sức khỏe tâm thần còn rất nghèo nàn.

Thực tế những năm gần đây, rất nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần đang nổi lên như stress, lo âu, ám ảnh, trầm cảm, tự sát trong học sinh trường học, vấn đề “hysterya tập thể”, các biểu hiện suy nhược và rối loạn dạng cơ thể…

ap-luc-bai-vo

Áp lực bài vở, các mối quan hệ trong xã hội khiến các em học sinh dễ bị trầm cảm.(ảnh minh họa)

TS Ngô Thanh Hồi – Giám đốc Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương cho biết, trẻ em vô tình bị đẩy vào những tình huống buộc phải tự lập cũng như phải đối mặt với quá nhiều tác động có hại do mặt trái của nền kinh tế thị trường, trong khi các em không có cơ hội trang bị đủ kiến thức cần thiết về tâm lý.

Hiện nay, trong nhà trường luôn luôn có một tỉ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm lý tâm thần. Theo đó 15,94% em có rối nhiễu về tâm lý trong tổng số học sinh các cấp học, lạm dụng chất gây nghiện đang tăng nhanh chóng, với số thanh thiếu niên. Trong số các ca tự sát, 10% ở độ tuổi 10 – 17.

Nghiên cứu 21.960 thanh thiếu niên Hà Nội phát hiện 3,7% em có rối loạn hành vi. Khảo sát sức khỏe tâm thần học sinh trường học thành phố Hà Nội bằng công cụ SDQ của Tổ chức Y tế Thế giới chuẩn hóa Việt Nam cho thấy trên mẫu nghiên cứu gồm 1.202 học sinh tiểu học và trung học cơ sở trong độ tuổi 10 – 16 tuổi, tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần chung là 19,46 %. Tỷ lệ này đối với nam, nữ, tiểu học, trung học cơ sở, nội thành, ngoại thành không có gì khác biệt.

Những khó khăn về ứng xử của học sinh trong nghiên cứu của Bệnh viện Mai Hương chiếm 9,23%. Lứa tuổi 10 – 11 có tỷ lệ 42 – 46% gặp khó khăn về ứng xử. Đặc biệt có sự chênh lệch rất lớn về khó khăn trong ứng xử giữa học sinh nam (84.60%) và học sinh nữ (15,40%). TS Hồi cũng lưu ý, trong lĩnh vực tâm lý trẻ em, những phân biệt đối xử của ông bà, cha mẹ thậm chí định kiến bất bình đẳng về giới cũng có tác động đến ứng xử của trẻ.
Các vấn đề liên quan đến phát triển trí tuệ, rối loạn nhân cách hành vi như rối loạn cảm xúc, rối loạn tăng động, rối loạn ứng xử, xung động bạo lực, nghiện rượu và ma túy, rối loạn ăn uống dẫn tới béo phì, đều là các rối loạn báo hiệu sức khỏe tâm thần gặp trục trặc.
Cần quan tâm đến tâm lý của trẻ nhiều hơn nữa

Do những rối loạn cảm xúc như lo âu, trầm cảm làm giảm sút đáng kể sự phát triển và khả năng học của học sinh. Các rối loạn hành vi phá vỡ nghiêm trọng sự phát triển về mặt xã hội và có thể dẫn tới mắc các chứng bệnh tâm thần về lâu dài. Can thiệp sớm, với trọng tâm là giải quyết các xung đột gia đình và những rắc rối trong quan hệ của bố mẹ trẻ, giúp ngăn ngừa hữu hiệu những hậu quả có hại về sau.

Trẻ em dưới 16 tuổi chiếm 50% dân số Việt Nam. Tuy nhiên, hiểu biết của người dân về vấn đề chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho đối tượng này còn nghèo nàn. Thậm chí, trong ngành y tế chỉ một số lượng nhỏ nhân viên làm việc trong hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em. Chính họ cũng thiếu kỹ năng cần thiết để chăm sóc bệnh nhân.

 ap-luc-bai-vo2

Bố mẹ hãy quan tâm đến đời sống tình cảm của con nhiều hơn nữa. (ảnh minh họa)

Những biểu hiện có vấn đề về sức khỏe tâm thần

Các rối loạn hành vi có đặc trưng về sức khỏe tâm thần là:

– Các biểu hiện quá đáng của sự càn quấy và bắt nạt, sự độc ác đối với súc vật và những người khác.

– Sự phá hoại nặng nề tài sản của người khác.

– Hành vi gây cháy, trộm cắp, nói dối nhiều lần, trốn học và bỏ nhà.

– Những cơn giận dữ trầm trọng bất thường, tác phong khiêu khích, bướng bỉnh, không vâng lời trầm trọng và dai dẳng.

Phương pháp điều trị

Bệnh nhân trầm cảm cần được điều trị tích cực và cho nhập viện đối với những trường hợp nặng để đề phòng tự sát. Có những phương pháp để điều trị trầm cảm như: Tâm lý liệu pháp, sử dụng thuốc chống trầm cảm và các liệu pháp tái thích ứng xã hội. Ngày nay, do tiến bộ của ngành Dược nên có nhiều thuốc chống trầm cảm tỏ ra rất có hiệu quả trong điều trị, hoặc bệnh nhân có thể sử dụng sản phẩm có chiết xuất từ thảo dược để hỗ trợ điều trị stress một cách toàn diện và không có tác dụng phụ.

Việc điều trị trầm cảm đòi hỏi phải kiên trì, lâu dài và theo từng giai đoạn của bệnh, thời gian điều trị tối thiểu từ 3 đến 6 tháng. Vì vậy, đối với những trường hợp có biểu hiện của bệnh trầm cảm cần đưa đến khoa tâm thần để được chẩn đoán và có kế hoạch điều trị đúng đắn. Tuy nhiên sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành tâm thần với cộng đồng và các thành viên trong gia đình người bệnh là yếu tố quan trọng, trong quá trình điều trị bệnh trầm cảm để đạt hiệu quả cao.

 

theo  eva.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *